Nhiệt độ thi công bê tông nhựa không đơn thuần là một con số cần kiểm tra trước khi rải. Từ lúc nhựa đường và cốt liệu được gia nhiệt tại trạm trộn, hỗn hợp được vận chuyển ra công trường, đưa qua máy rải cho đến khi lu lèn hoàn thiện, nhiệt độ đều phải nằm trong giới hạn phù hợp. Chỉ cần hỗn hợp nguội quá nhanh, thời gian lu lèn sẽ bị rút ngắn, lớp bê tông nhựa khó đạt độ chặt thiết kế. Ngược lại, nhiệt độ quá cao cũng không tốt vì có thể ảnh hưởng đến chất lượng chất kết dính và làm giảm tính ổn định của hỗn hợp.
Vậy bê tông nhựa nóng cần được thi công ở nhiệt độ bao nhiêu, kiểm tra tại những vị trí nào và xử lý thế nào nếu hỗn hợp không đạt nhiệt độ yêu cầu? Nội dung dưới đây sẽ làm rõ từng vấn đề.
Vì sao nhiệt độ thi công bê tông nhựa phải được kiểm soát chặt?
Bê tông nhựa nóng là hỗn hợp gồm cốt liệu khoáng, bột khoáng và chất kết dính nhựa đường được phối trộn ở nhiệt độ cao. Đặc tính của nhựa đường thay đổi khá rõ theo nhiệt độ.
Ở nhiệt độ thích hợp, nhựa đường có độ nhớt phù hợp để bao phủ cốt liệu, hỗn hợp dễ rải và đủ khả năng dịch chuyển dưới tác dụng của máy lu để đạt độ chặt yêu cầu.
Khi nhiệt độ giảm quá nhanh:
- Hỗn hợp trở nên cứng;
- Khả năng sắp xếp lại các hạt cốt liệu giảm;
- Máy lu khó tạo được độ chặt cần thiết;
- Dễ xuất hiện khe rỗng, bề mặt không đồng đều;
- Chất lượng mối nối giữa các vệt rải có thể giảm.
Bởi vậy, TCVN 13567-1:2022 yêu cầu kiểm soát nhiệt độ không chỉ khi rải mà ngay từ quá trình sản xuất, vận chuyển và lu lèn bê tông nhựa. Tiêu chuẩn này áp dụng đối với lớp mặt đường sử dụng bê tông nhựa chặt với nhựa đường thông thường, thi công theo phương pháp trộn nóng, rải nóng.

Nhiệt độ thi công bê tông nhựa theo TCVN 13567-1:2022
Không có một mức nhiệt duy nhất áp dụng cho toàn bộ quá trình thi công. Mỗi công đoạn có một khoảng nhiệt độ riêng, đồng thời nhiệt độ còn phụ thuộc vào cấp nhựa đường sử dụng. Theo bảng nhiệt độ được dẫn chiếu từ TCVN 13567-1:2022, với bê tông nhựa chặt sử dụng nhựa đường 40/50 và 60/70, các mức nhiệt chính có thể tham khảo như sau:
| Công đoạn | Nhựa đường 40/50 | Nhựa đường 60/70 |
|---|---|---|
| Đun nóng nhựa đường | 160 – 170°C | 155 – 165°C |
| Nhiệt độ hỗn hợp khi xả xuống xe | 150 – 170°C | 145 – 165°C |
| Hỗn hợp đến công trường | ≥ 150°C | ≥ 145°C |
| Nhiệt độ phải loại bỏ hỗn hợp | ≥ 200°C | ≥ 195°C |
| Nhiệt độ cho phép xe lưu thông sau thi công | ≤ 50°C | ≤ 50°C |
Cốt liệu thường được nung nóng cao hơn nhiệt độ nhựa đường khoảng 10 – 20°C, phổ biến khoảng 15°C. Các con số trên không nên được hiểu như một “công thức cố định” cho mọi loại bê tông nhựa. Khi sử dụng nhựa polymer, phụ gia SBS hoặc hỗn hợp đặc biệt, khoảng nhiệt độ sản xuất và thi công có thể khác và cần thực hiện theo tiêu chuẩn, thiết kế cấp phối cũng như chỉ dẫn kỹ thuật của dự án.
Nhiệt độ bê tông nhựa khi rải bao nhiêu là phù hợp?
Đây là công đoạn dễ xảy ra mất nhiệt nhất vì hỗn hợp đã trải qua quá trình vận chuyển từ trạm trộn đến công trường.
Nhiệt độ rải phụ thuộc đồng thời vào: nhiệt độ lớp mặt bên dưới, cấp nhựa đường và chiều dày lớp bê tông nhựa.
Ví dụ, đối với nhựa đường 60/70 và lớp bê tông nhựa dày không quá 5 cm, mức nhiệt tối thiểu khi rải được dẫn chiếu như sau:
| Nhiệt độ bề mặt lớp dưới | Nhiệt độ hỗn hợp khi rải tối thiểu |
| 15 – 20°C | ≥ 135°C |
| 20 – 25°C | ≥ 132°C |
| 25 – 30°C | ≥ 130°C |
| Trên 30°C | ≥ 125°C |
Với nhựa đường 40/50, nhiệt độ tương ứng cao hơn. Một điểm thường bị bỏ qua là chiều dày lớp rải cũng ảnh hưởng đến mức nhiệt cho phép. Theo bảng được SIC Trading dẫn từ TCVN 13567-1:2022, trị số trong ngoặc được áp dụng phù hợp hơn cho lớp bê tông nhựa dày trên 8 cm. Với chiều dày từ 5 – 8 cm có thể lựa chọn trị số trung gian.
Nguyên nhân là lớp vật liệu càng mỏng thì tỷ lệ diện tích tiếp xúc với không khí và lớp móng càng lớn, do đó mất nhiệt nhanh hơn.
Nhiệt độ không khí tối thiểu để thi công bê tông nhựa
Điều kiện môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ mất nhiệt của hỗn hợp. Chỉ thi công lớp bê tông nhựa chặt khi nhiệt độ không khí lớn hơn 15°C và không thi công khi trời mưa.
Khi nhiệt độ không khí từ 15 – 20°C, tiêu chuẩn khuyến nghị tăng năng lực lu lèn, có thể bố trí tối thiểu 5 máy lu để hoàn thành quá trình đầm nén trước khi hỗn hợp nguội.
Tại khu vực miền Trung như Phú Yên, nhiệt độ không khí thông thường khá thuận lợi cho thi công bê tông nhựa. Tuy nhiên, yếu tố cần chú ý hơn là mưa bất chợt, gió mạnh, thời gian vận chuyển và nhiệt độ thực tế của lớp móng hoặc lớp bê tông nhựa bên dưới.

Vì sao bê tông nhựa mất nhiệt quá nhanh trên đường vận chuyển?
Không ít trường hợp hỗn hợp khi xuất trạm vẫn đạt nhiệt độ nhưng đến công trường lại gần ngưỡng tối thiểu cho phép. Nguyên nhân thường đến từ nhiều yếu tố cộng dồn:
Quãng đường vận chuyển quá xa
Thời gian từ trạm trộn đến máy rải càng dài thì lượng nhiệt thất thoát càng lớn. Do đó, khi lựa chọn nguồn cung cấp bê tông nhựa nóng, khoảng cách từ trạm trộn đến công trường là yếu tố kỹ thuật chứ không chỉ liên quan đến chi phí vận chuyển.
Xe không che phủ tốt
TCVN yêu cầu xe vận chuyển bê tông nhựa phải có thùng kín, sạch và có bạt che phủ. Không che bạt hoặc che không kín khiến bề mặt hỗn hợp tiếp xúc trực tiếp với không khí, đặc biệt bất lợi khi vận chuyển ban đêm hoặc trong điều kiện có gió.
Xe chờ quá lâu tại công trường
Một chuỗi xe tập trung quá nhiều nhưng máy rải hoạt động chậm cũng khiến hỗn hợp phải nằm lâu trên thùng xe. Vì vậy, số lượng xe phải được tính toán dựa trên công suất trạm trộn, năng suất máy rải và cự ly vận chuyển, thay vì huy động càng nhiều xe càng tốt. Đây cũng là nguyên tắc tổ chức vận chuyển được TCVN 13567-1:2022 đề cập.
Kiểm tra nhiệt độ bê tông nhựa tại công trường như thế nào?
Một quy trình kiểm soát tốt nên có nhiều điểm kiểm tra thay vì chỉ đo khi xe đến công trường.
Kiểm tra khi hỗn hợp xuất trạm
Mỗi chuyến xe nên có thông tin về:
- Loại bê tông nhựa;
- Khối lượng;
- Nhiệt độ hỗn hợp;
- Thời điểm rời trạm;
- Địa điểm giao hàng.
TCVN cũng yêu cầu mỗi xe vận chuyển khi rời trạm phải có phiếu xuất xưởng thể hiện các thông tin liên quan đến loại hỗn hợp, nhiệt độ, khối lượng và thời điểm xuất trạm.
Kiểm tra trước khi đưa vào máy rải
Trước khi đổ hỗn hợp từ xe vào phễu máy rải phải kiểm tra nhiệt độ. Nếu thấp hơn nhiệt độ tối thiểu quy định cho công đoạn rải thì hỗn hợp phải được loại bỏ. Hỗn hợp bị phân ly hoặc bị ướt cũng không được tiếp tục sử dụng.
Kiểm tra trong quá trình lu
Kỹ sư hiện trường cần theo dõi nhiệt độ tại thời điểm:
- Bắt đầu lu;
- Lu trung gian;
- Kết thúc lu.
Việc này giúp điều chỉnh số lượt lu và khoảng cách giữa máy rải với từng máy lu thay vì chỉ kiểm tra độ chặt sau khi lớp đường đã hoàn thành.
Nhà máy VLXD Thành An – Đơn vị cung cấp bê tông nhựa nóng phục vụ công trình tại Phú Yên
Kiểm soát đúng nhiệt độ thi công bê tông nhựa cần bắt đầu ngay từ khâu sản xuất và tiếp tục xuyên suốt quá trình vận chuyển, rải đến lu lèn. Một hỗn hợp có cấp phối tốt nhưng vận chuyển quá lâu hoặc thi công ngoài cửa sổ nhiệt độ phù hợp vẫn có nguy cơ không đạt chất lượng mong muốn.
Nhà máy sản xuất VLXD Thành An cung cấp vật liệu và bê tông nhựa phục vụ các công trình giao thông, hạ tầng, khu dân cư và dự án xây dựng tại Phú Yên. Với các dự án sử dụng bê tông nhựa nóng, việc xác định loại hỗn hợp, khối lượng, tiến độ cung cấp và khoảng cách vận chuyển cần được tính toán đồng bộ với năng lực thi công tại hiện trường.
Quý chủ đầu tư và nhà thầu có nhu cầu tư vấn lựa chọn bê tông nhựa nóng, xác định khối lượng hoặc nhận báo giá vật liệu cho công trình tại Phú Yên có thể liên hệ Nhà máy VLXD Thành An để được hỗ trợ theo yêu cầu thực tế của dự án.

Nhiệt độ là một trong những yếu tố quyết định trực tiếp đến khả năng rải, lu lèn, độ chặt và độ bền của lớp bê tông nhựa sau thi công. Vì vậy, nhà thầu cần kiểm soát chặt nhiệt độ từ khi hỗn hợp rời trạm trộn, vận chuyển đến công trường cho đến lúc hoàn tất lu lèn, đồng thời tuân thủ đúng yêu cầu kỹ thuật của từng loại hỗn hợp và điều kiện thi công thực tế. Nhà máy sản xuất VLXD Thành An cung cấp bê tông nhựa nóng phục vụ các công trình giao thông, hạ tầng tại Phú Yên, hỗ trợ tư vấn chủng loại, khối lượng và phương án cung ứng phù hợp tiến độ. Quý khách có nhu cầu nhận báo giá hoặc tư vấn kỹ thuật có thể liên hệ Thành An để được hỗ trợ chi tiết.

Bình luận