Hệ số lu lèn cấp phối đá dăm loại 1 và loại 2 chuẩn TCVN

admin 24

Hệ số lu lèn cấp phối đá dăm là con số quyết định anh phải rải dày bao nhiêu để sau khi lu xong đạt đúng chiều dày thiết kế, và phải đặt mua bao nhiêu khối vật liệu. Tính sai một chút là hoặc thiếu vật liệu giữa ca, hoặc thừa một đống đá nằm phơi ngoài công trường.

Vấn đề là phần lớn tài liệu đang lưu hành trên mạng vẫn trích TCVN 8859:2011 — tiêu chuẩn đã được thay thế. Bài này trình bày cách xác định hệ số lu lèn theo TCVN 8859:2023, bản đang có hiệu lực, kèm công thức nguyên văn, trị số độ chặt bắt buộc và một ví dụ tính khối lượng đặt hàng.

Hệ số lu lèn cấp phối đá dăm là gì?

Khi cấp phối đá dăm được đổ và san ra, các hạt đá còn nằm rời rạc, giữa chúng có rất nhiều lỗ rỗng. Lu đi qua ép các hạt xít lại, lỗ rỗng giảm, lớp vật liệu tụt xuống. Tỷ số giữa chiều dày lúc mới rải và chiều dày sau khi lu chặt chính là hệ số lu lèn.

Con số này luôn lớn hơn 1. Muốn có lớp móng dày 15 cm sau khi lu, anh phải rải dày hơn 15 cm — dày hơn bao nhiêu thì hệ số lu lèn cho biết.

Hệ số lu lèn và hệ số rải là một

Trên công trường người ta gọi hai cách. TCVN 8859:2023 dùng ký hiệu Krải và ghi rõ trong ngoặc “hệ số lu lèn”, nên hai tên này chỉ ra cùng một đại lượng. Trong hồ sơ nghiệm thu nên viết thống nhất là hệ số rải Krải cho khớp với tiêu chuẩn.

Cần phân biệt với một đại lượng khác dễ nhầm: độ chặt lu lèn K. Hệ số rải nói về chiều dày, độ chặt lu lèn nói về chất lượng đầm nén và luôn nhỏ hơn hoặc bằng 1. Hai con số phục vụ hai việc khác nhau, sẽ nói ở phần dưới.

Vì sao không có một con số cố định cho loại 1 và loại 2

Đây là câu hỏi hay gặp nhất: “hệ số lu lèn cấp phối đá dăm loại 1 là bao nhiêu, loại 2 là bao nhiêu?” Câu trả lời thẳng thắn là tiêu chuẩn không cho sẵn một trị số theo loại, và cũng không thể cho được.

Hệ số lu lèn phụ thuộc vào ba thứ thay đổi theo từng công trường:

  • Thành phần hạt và nguồn đá — cùng là loại I nhưng đá của hai mỏ khác nhau cho độ rỗng lúc rời khác nhau.
  • Cách vận chuyển và san rải — vật liệu đổ đống rồi san bằng máy san khác với rải bằng máy rải, độ tơi ban đầu không giống nhau.
  • Dây chuyền lu — loại lu, tải trọng, số lượt và tốc độ đều tác động tới chiều dày cuối cùng.

Vì vậy TCVN 8859:2023 bắt buộc xác định hệ số này từ kết quả thi công thử của chính công trường đó. Con số của dự án khác chỉ dùng để tham khảo lúc lập dự toán, không dùng để nghiệm thu.

Cảnh báo: nhiều tài liệu đang trích tiêu chuẩn đã hết hiệu lực

Ngay trang thứ nhất của TCVN 8859:2023 ghi rõ: “TCVN 8859:2023 thay thế TCVN 8859:2011”. Nhưng rất nhiều bài viết, file dự toán và cả một số thuyết minh biện pháp thi công vẫn dẫn bản 2011.

Chỗ khác biệt dễ gây hậu quả nhất là chiều dày mỗi lớp thi công. Con số 18 cm mà nhiều tài liệu nhắc tới là của bản cũ. Bản 2023 quy định chiều dày mỗi lớp sau khi lu lèn thông thường là 15 cm, trường hợp đặc biệt mới lên cao hơn và thông thường không vượt quá 20 cm, kèm điều kiện phải dùng thiết bị lu hiện đại và sơ đồ lu lấy theo kết quả thi công thử.

Trước khi nộp hồ sơ, anh nên rà lại xem thuyết minh của mình đang dẫn số hiệu tiêu chuẩn nào. Đây là lỗi tư vấn giám sát bắt rất nhanh.

Hai cách xác định hệ số lu lèn theo TCVN 8859:2023

Tiêu chuẩn đưa ra hai công thức cho hai thời điểm khác nhau: một để ước tính lúc chuẩn bị, một để chốt lại sau khi rải thử.

Sơ đồ mặt cắt thể hiện ba cao độ dùng để tính hệ số rải cấp phối đá dăm: cao độ mặt bằng thi công, cao độ sau khi rải và cao độ sau khi lu lèn xong
Ba cao độ đo trên cùng một mặt cắt, tại cùng một điểm — cơ sở của công thức (1) trong TCVN 8859:2023.

Cách 1 — tính sơ bộ từ khối lượng thể tích khô

Dùng khi lập đề cương thi công thử, lúc chưa có số liệu hiện trường. Công thức (2) của tiêu chuẩn:

Krải = ( γkmax × Kyc ) ÷ γkr

Trong đó:

  • γkmax — khối lượng thể tích khô lớn nhất theo kết quả thí nghiệm đầm nén, xác định theo TCVN 12790, đơn vị g/cm³;
  • γkr — khối lượng thể tích khô của cấp phối đá dăm ở trạng thái rời, chưa đầm nén, g/cm³;
  • Kyc — độ chặt yêu cầu của lớp cấp phối đá dăm, tính bằng phần trăm.

Cả γkmax và γkr đều lấy từ phòng thí nghiệm với đúng mẫu vật liệu của mỏ sẽ dùng. Đó là lý do phải có kết quả thí nghiệm vật liệu trước khi lập biện pháp thi công.

Cách 2 — xác định chính xác từ cao độ sau thi công thử

Đây mới là con số dùng để thi công đại trà. Sau khi rải thử và lu tới khi đạt độ chặt yêu cầu, đo cao độ tại các điểm tương ứng trên cùng một mặt cắt rồi áp công thức (1):

Krải = ( CĐrải − CĐmb ) ÷ ( CĐlu − CĐmb )

Trong đó CĐmb là cao độ mặt bằng thi công tại vị trí kiểm tra, CĐrải là cao độ bề mặt lớp cấp phối đá dăm sau khi rải, còn CĐlu là cao độ bề mặt lớp đó sau khi lu lèn xong và đã đạt độ chặt yêu cầu.

Nói gọn: hệ số rải bằng chiều dày lúc rải chia cho chiều dày sau khi lu. Điều kiện là ba cao độ phải đo tại cùng một điểm trên cùng một mặt cắt, nếu không con số sẽ vô nghĩa.

Con số 1,3 dùng khi nào

TCVN 8859:2023 có nhắc tới trị số 1,3, nhưng cần đọc đúng ngữ cảnh: đó là giá trị tạm lấy ban đầu khi lập sơ đồ vận hành phương tiện tập kết và san rải vật liệu cho đoạn thi công thử. Nguyên văn tiêu chuẩn ghi “ban đầu cũng có thể tạm lấy hệ số lu lèn là 1,3”.

Nghĩa là 1,3 dùng để tính xem cần bao nhiêu xe, đổ đống cách nhau bao xa cho đoạn rải thử. Nó không phải hệ số nghiệm thu, và không phải trị số riêng của loại 1 hay loại 2. Lấy 1,3 áp thẳng cho toàn bộ dự án là dùng sai.

Ví dụ tính hệ số lu lèn và khối lượng đặt hàng

Giả sử một đoạn móng trên rộng 7 m, dài 100 m, chiều dày thiết kế sau lu 15 cm. Đoạn thi công thử cho kết quả cao độ như sau:

Đại lượng Ký hiệu Giá trị đo
Cao độ mặt bằng thi công mb 0,000 m (lấy làm mốc)
Cao độ sau khi rải rải 0,195 m
Cao độ sau khi lu đạt độ chặt lu 0,150 m
Chiều dày lúc rải hrải 19,5 cm
Chiều dày sau lu hlu 15,0 cm
Hệ số rải Krải 19,5 ÷ 15,0 = 1,30

Từ hệ số này suy ra khối lượng cần đặt:

  • Thể tích lớp móng sau khi lu: 7 m × 100 m × 0,15 m = 105 m³.
  • Thể tích vật liệu phải rải: 105 m³ × 1,30 = 136,5 m³ đo ở trạng thái rời.
  • Nếu không có khuôn đường hoặc đá vỉa, tiêu chuẩn yêu cầu rải rộng thêm mỗi bên tối thiểu 25 cm. Bề rộng rải thành 7,5 m, khối lượng tăng lên khoảng 146 m³.

Con số 1,30 trong ví dụ chỉ là kết quả của đoạn thử giả định. Công trường của anh phải đo ra hệ số của chính mình. Muốn ước lượng khối lượng trước khi có kết quả thử, xem thêm cách phân loại và chỉ tiêu vật liệu trong bài cấp phối đá dăm: phân loại, tiêu chuẩn và báo giá.

Loại 1 và loại 2 khác nhau ở đâu

Tiêu chuẩn phân loại theo nguồn gốc vật liệu, không theo hệ số lu lèn. Đây là điều 4.1 của TCVN 8859:2023.

Cấp phối đá dăm loại I

Ký hiệu CPĐD-I. Là cấp phối đá dăm được nghiền từ đá nguyên khai — toàn bộ cỡ hạt đều qua nghiền.

Cấp phối đá dăm loại II

Ký hiệu CPĐD-II. Được nghiền từ đá nguyên khai hoặc sỏi cuội. Điểm khác biệt là cỡ hạt nhỏ hơn 2,36 mm có thể là vật liệu hạt tự nhiên không nghiền, nhưng khối lượng phần này không vượt quá 50% khối lượng cấp phối đá dăm. Nếu nghiền từ sỏi cuội thì ít nhất 75% số hạt trên sàng 9,5 mm phải có từ hai mặt vỡ trở lên.

Dùng cho lớp nào

Loại Phạm vi sử dụng theo điều 5
CPĐD loại I Lớp móng trên của kết cấu áo đường mềm và áo đường cứng. Có thể làm móng dưới nếu cân nhắc yếu tố kinh tế – kỹ thuật.
CPĐD loại II Lớp móng dưới của kết cấu áo đường có tầng mặt loại A1; làm lớp móng trên cho kết cấu áo đường có tầng mặt loại A2 hoặc cấp thấp hơn của áo đường mềm.
Cả hai loại Đều dùng được làm lớp móng dưới của áo đường cứng bê tông xi măng.

Tiêu chuẩn còn mở một trường hợp: nếu xe lưu thông chủ yếu có tải trọng trục từ 80 kN trở xuống và tổng số trục xe tích lũy quy đổi tương đương 80 kN trong suốt thời kỳ khai thác không vượt quá 1×10⁶, thì cho phép dùng CPĐD loại I làm lớp móng trên của kết cấu áo đường cứng bê tông xi măng.

Ngoài ra còn cách phân loại thứ hai theo cỡ hạt lớn nhất danh định: CPĐD-37,5, CPĐD-25CPĐD-19.

Vậy hệ số lu lèn của hai loại có khác nhau không?

Trên thực tế thường có chênh lệch, vì loại II chứa phần hạt mịn tự nhiên không nghiền nên độ rỗng lúc rời và đường cong đầm nén không giống loại I. Nhưng chênh bao nhiêu thì phải đo, tiêu chuẩn không quy định sẵn. Ai đưa ra một cặp số cố định kiểu “loại 1 là 1,28, loại 2 là 1,32” là đang đưa số liệu không có căn cứ tiêu chuẩn.

Độ chặt K ≥ 0,98 — điều kiện nghiệm thu bắt buộc

Đây là con số cố định duy nhất trong toàn bộ câu chuyện, và là thứ quyết định lớp móng được nghiệm thu hay phải lu lại.

Công thức và cách thí nghiệm

Theo điều 8.3.2, độ chặt lu lèn K của lớp cấp phối đá dăm xác định theo công thức (3) và không được nhỏ hơn 0,98:

K = γc ÷ γcMAX

Trong đó γc là khối lượng thể tích khô của cấp phối đá dăm sau khi thi công đo ở hiện trường, còn γcMAX là khối lượng thể tích khô của cấp phối đá dăm được đầm chặt theo TCVN 12790 phương pháp II-D. Tiêu chuẩn ghi chú có thể kiểm tra độ chặt lu lèn bằng phương pháp rót cát theo AASHTO T 191.

Tần suất kiểm tra

Nội dung kiểm tra Tần suất theo TCVN 8859:2023
Chất lượng vật liệu tại bãi chứa chân công trình Cứ 1000 m³ lấy ít nhất một mẫu cho mỗi nguồn cung cấp, hoặc khi có bất thường về chất lượng
Thành phần hạt và độ ẩm trong quá trình thi công Cứ 200 m³ vật liệu hoặc một ca thi công lấy một mẫu
Độ chặt lu lèn Cứ 2000 m² thí nghiệm tại một vị trí ngẫu nhiên
Cao độ, độ dốc ngang, chiều dày, chiều rộng Cứ 40 m đến 50 m với đoạn tuyến thẳng; 20 m đến 25 m với đoạn tuyến cong đứng, đo một trắc ngang
Độ bằng phẳng bằng thước 3 m Cứ 100 m đo tại một vị trí

Việc thí nghiệm kiểm tra độ chặt được tiến hành tại mỗi lớp móng đã thi công xong, không phải chỉ ở lớp trên cùng. Đến giai đoạn cuối của quá trình lu, phải thí nghiệm thường xuyên để lấy đó làm cơ sở kết thúc lu — lu thêm sau khi đã đạt chỉ tốn dầu và có thể làm vỡ hạt.

Giới hạn hình học phải đạt cùng lúc

Đạt K ≥ 0,98 mà sai cao độ vẫn không được nghiệm thu. Bảng 4 của tiêu chuẩn quy định:

Chỉ tiêu Móng dưới Móng trên
Cao độ − 10 mm − 5 mm
Độ dốc ngang ± 0,5 % ± 0,3 %
Chiều dày ± 10 mm ± 5 mm
Chiều rộng − 50 mm − 50 mm
Khe hở lớn nhất dưới thước 3 m ≤ 10 mm ≤ 5 mm

Dung sai chiều dày của móng trên chỉ ± 5 mm. Với dung sai hẹp như vậy, hệ số rải sai 5% là đủ để cả đoạn nằm ngoài giới hạn.

Chiều dày mỗi lớp: 15 cm, đặc biệt mới tới 20 cm

Điều 7.3.3 quy định chiều dày của mỗi lớp thi công sau khi lu lèn thông thường là 15 cm. Trường hợp đặc biệt có yêu cầu chiều dày lớn hơn thì phải sử dụng thiết bị lu hiện đại và sơ đồ lu theo kết quả thi công thử, thông thường không vượt quá 20 cm.

Ý nghĩa thực tế: lớp móng thiết kế dày 30 cm không thể rải một lần. Phải chia thành hai lớp thi công, mỗi lớp lu và nghiệm thu độ chặt riêng. Cố rải dày một lần thì phần đáy lớp gần như chắc chắn không đạt K ≥ 0,98, mà thí nghiệm rót cát ở mặt trên lại không phát hiện ra.

Độ ẩm — biến số hay bị bỏ qua nhất

Theo điều 7.3.2, độ ẩm của vật liệu cấp phối đá dăm phải nằm trong phạm vi độ ẩm tối ưu (Wo ± 2)%, và phải duy trì trong suốt quá trình chuyên chở, tập kết, san hoặc rải và lu lèn — không phải chỉ lúc sắp lu.

  • Khô hơn phạm vi tối ưu: phải tưới bổ sung bằng vòi phun dạng sương, không được để nước rửa trôi các hạt mịn. Nên kết hợp bổ sung ngay trong quá trình san rải, lu lèn bằng bộ phận phun sương gắn kèm.
  • Ướt hơn phạm vi tối ưu: phải hong khô trước khi lu.

Vật liệu quá khô thì hạt không trượt vào vị trí, lu bao nhiêu lượt cũng không đạt. Quá ướt thì nước chiếm chỗ, lu xong thấy chặt nhưng khi nước thoát đi lớp móng sẽ lún. Đây là nguyên nhân phổ biến của những đoạn “lu mãi không đạt” mà đổ lỗi cho vật liệu.

Sơ đồ lu để đạt K ≥ 0,98

Sơ đồ ba giai đoạn lu lèn lớp móng cấp phối đá dăm: lu nhẹ lu sơ bộ 3 đến 4 lượt, lu rung hoặc lu bánh lốp 12 đến 20 lượt, hoàn thiện bằng lu bánh sắt 2 đến 3 lượt
Trình tự lu thông thường nêu trong TCVN 8859:2023. Số lượt áp dụng thực tế lấy theo kết quả thi công thử.

Tiêu chuẩn mô tả trình tự thông thường như sau: dùng lu nhẹ với vận tốc không quá 3 km/h để lu 3 – 4 lượt đầu; sau đó dùng lu rung (100 – 120) kN hoặc lu bánh lốp có tải trọng bánh (25 – 40) kN để lu tiếp từ 12 – 20 lượt cho đến khi đạt độ chặt yêu cầu; rồi hoàn thiện bằng 2 – 3 lượt lu bánh sắt (80 – 100) kN.

Ba quy tắc kèm theo, thường bị bỏ qua nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới độ chặt mép:

  • Vệt bánh lu sau phải chồng lên vệt lu trước ít nhất 20 cm.
  • Lu từ chỗ thấp đến chỗ cao.
  • Đoạn thẳng lu từ mép vào tim đường; đoạn cong lu từ phía bụng đường cong dần lên phía lưng đường cong.

Số lần lu phải đảm bảo đồng đều với tất cả các điểm trên mặt móng, kể cả phần mở rộng. Ngay sau giai đoạn lu sơ bộ phải kiểm tra cao độ, độ dốc ngang, độ bằng phẳng và phát hiện các vị trí lồi lõm, phân tầng để bù phụ kịp thời — sửa lúc này còn dễ, để tới sau khi lu chặt thì phải cào lên làm lại.

Thi công thử: bước không được bỏ

Toàn bộ các con số áp dụng cho thi công đại trà đều lấy ra từ đoạn thi công thử. Theo điều 7.2, đoạn thử phải xác lập được:

  • Hệ số lu lèn và chiều dày tối ưu của lớp thi công;
  • Sơ đồ lu lèn của mỗi loại lu, với thứ tự và hành trình lu, vận tốc và số lần lu qua một điểm;
  • Tương quan giữa số lần lu và độ chặt đạt được;
  • Số lượng phương tiện vận chuyển tham gia dây chuyền, cự ly giữa các đống vật liệu nếu rải bằng máy san;
  • Các công tác phụ trợ như bù phụ, xử lý phân tầng và các bước kiểm tra, giám sát.

Toàn bộ công tác thi công thử, từ khi lập đề cương cho đến khi xác lập được dây chuyền công nghệ áp dụng đại trà, phải được kiểm tra và chấp thuận của đơn vị có trách nhiệm theo luật hiện hành.

Vài quy định về san rải hay bị bỏ sót

  • Lớp móng trên phải rải bằng máy rải. Chỉ khi mặt bằng không cho phép mới dùng máy san hoặc thiết bị phù hợp khác, và phải đã có thi công rải thử.
  • Lớp móng dưới nên dùng máy rải; chỉ được dùng máy san khi có đầy đủ giải pháp chống phân tầng.
  • Khi dùng máy san, khoảng cách giữa các đống vật liệu xác định qua thi công thử nhưng không lớn hơn 10 m.
  • Ở chỗ chuyển tiếp giữa các đoạn lu, hoặc giữa hai ca thi công, phải xáo xới lại 60 cm cuối của đoạn rải trước rồi mới rải vệt tiếp theo.
  • Chỗ tiếp giáp với vệt rải trước phải loại bỏ vật liệu bị phân tầng ở mép trước khi rải vệt mới.
  • Nếu phát hiện vị trí vật liệu bị phân tầng, phải loại bỏ toàn bộ và thay bằng vật liệu cấp phối đá dăm mới — không được trộn lại tại chỗ.

Yêu cầu về đá gốc

Điều 6.1 quy định đá gốc dùng để nghiền sàng làm cấp phối đá dăm phải có cường độ nén tối thiểu 60 MPa nếu dùng cho lớp móng trên40 MPa nếu dùng cho lớp móng dưới. Không được dùng đá xay có nguồn gốc từ đá sa thạch (đá cát kết, bột kết) và diệp thạch (đá sét kết, đá sít).

Đây là chỉ tiêu cần hỏi nhà cung cấp ngay từ khi chào hàng, cùng với thành phần hạt. Xem thêm cách kiểm tra hình dạng hạt trong bài hạt thoi dẹt đá dăm và các phép thử cốt liệu tại bài thí nghiệm cốt liệu lớn theo TCVN 7572.

Sai lầm thường gặp khi áp hệ số lu lèn

  • Bê nguyên hệ số của dự án cũ. Khác mỏ, khác dây chuyền lu thì hệ số khác. Đây là nguyên nhân số một gây thiếu hoặc thừa vật liệu.
  • Dùng 1,3 làm hệ số nghiệm thu. Tiêu chuẩn chỉ cho phép tạm lấy trị số này khi lập đề cương thi công thử.
  • Nhầm hệ số rải với độ chặt K. Một cái lớn hơn 1, một cái nhỏ hơn hoặc bằng 1; ghi nhầm vào biên bản là hồ sơ bị trả.
  • Đo ba cao độ ở ba chỗ khác nhau. Công thức chỉ đúng khi đo tại các điểm tương ứng trên cùng một mặt cắt.
  • Rải một lớp dày 25 – 30 cm cho nhanh. Đáy lớp không đạt độ chặt, nhưng thí nghiệm ở mặt trên vẫn cho kết quả đẹp.
  • Bỏ qua phần mở rộng 25 cm mỗi bên. Mép móng không đủ chặt, sau này nứt dọc theo mép mặt đường.
  • Không kiểm soát độ ẩm trong lúc vận chuyển. Vật liệu đủ ẩm ở bãi nhưng khô mất trên đường tới công trường.
  • Dẫn TCVN 8859:2011 trong thuyết minh. Tiêu chuẩn đã được thay thế.

Bảng kiểm trước khi đặt hàng cấp phối đá dăm

  • Xác định rõ dùng cho lớp móng trên hay móng dưới, để chọn loại I hay loại II theo điều 5.
  • Chốt cỡ hạt lớn nhất danh định: CPĐD-37,5, CPĐD-25 hay CPĐD-19.
  • Yêu cầu nhà cung cấp xuất trình kết quả thí nghiệm thành phần hạt và các chỉ tiêu cơ lý theo Bảng 1 và Bảng 2 của tiêu chuẩn.
  • Hỏi cường độ nén của đá gốc — 60 MPa cho móng trên, 40 MPa cho móng dưới.
  • Xác nhận nguồn đá không phải sa thạch hoặc diệp thạch.
  • Lấy kết quả thí nghiệm đầm nén theo TCVN 12790 để có γkmax phục vụ tính hệ số rải sơ bộ.
  • Thống nhất trước lịch lấy mẫu: 1000 m³ tại bãi chứa, 200 m³ hoặc mỗi ca trong quá trình thi công.
  • Giữ ổn định một nguồn cung trong suốt hạng mục — đổi mỏ giữa chừng là phải làm lại thi công thử.

Nhà máy Sản xuất VLXD Thành An Phú Yên cung cấp cấp phối đá dăm cho các công trình hạ tầng, kèm hồ sơ thí nghiệm vật liệu theo từng lô. Để được tư vấn chọn loại và cỡ hạt phù hợp với kết cấu áo đường của công trình, anh chị liên hệ hotline 0973 33 6666.

Câu hỏi thường gặp

Hệ số lu lèn cấp phối đá dăm loại 1 là bao nhiêu?

TCVN 8859:2023 không quy định một trị số cố định theo loại. Hệ số phải xác định từ kết quả thi công thử của chính công trường, bằng công thức (1) từ ba cao độ, hoặc tính sơ bộ bằng công thức (2) từ khối lượng thể tích khô. Trị số 1,3 mà nhiều nơi nhắc tới chỉ là giá trị tạm lấy ban đầu khi lập đề cương thi công thử.

Hệ số lu lèn và hệ số rải có phải hai đại lượng khác nhau không?

Không, đó là một. Tiêu chuẩn dùng ký hiệu Krải và ghi kèm “hệ số lu lèn” trong ngoặc. Cần phân biệt với độ chặt lu lèn K, là đại lượng khác và luôn nhỏ hơn hoặc bằng 1.

Độ chặt lu lèn phải đạt bao nhiêu mới được nghiệm thu?

Không nhỏ hơn 0,98, xác định theo công thức K = γc ÷ γcMAX, với γcMAX lấy theo TCVN 12790 phương pháp II-D. Thí nghiệm tiến hành tại mỗi lớp móng đã thi công xong, cứ 2000 m² kiểm tra một vị trí ngẫu nhiên.

Một lớp cấp phối đá dăm được rải dày tối đa bao nhiêu?

Chiều dày mỗi lớp sau khi lu lèn thông thường là 15 cm. Trường hợp đặc biệt cần dày hơn thì phải dùng thiết bị lu hiện đại và sơ đồ lu theo kết quả thi công thử, thông thường không vượt quá 20 cm. Lớp thiết kế dày hơn phải chia thành nhiều lớp thi công.

Cấp phối đá dăm loại 1 và loại 2 khác nhau thế nào?

Loại I được nghiền hoàn toàn từ đá nguyên khai. Loại II nghiền từ đá nguyên khai hoặc sỏi cuội, trong đó phần hạt nhỏ hơn 2,36 mm có thể là hạt tự nhiên không nghiền nhưng không quá 50% khối lượng; nếu nghiền từ sỏi cuội thì ít nhất 75% số hạt trên sàng 9,5 mm phải có từ hai mặt vỡ trở lên.

Có thể bỏ qua thi công thử và dùng luôn hệ số 1,3 không?

Không nên. Tiêu chuẩn yêu cầu xác định hệ số lu lèn từ kết quả thi công thử, và toàn bộ công tác thi công thử phải được đơn vị có trách nhiệm kiểm tra, chấp thuận. Bỏ bước này thì không có căn cứ để chốt chiều dày rải, dễ sai dung sai chiều dày vốn chỉ ± 5 mm với lớp móng trên.

Độ ẩm vật liệu cần khống chế trong khoảng nào?

Trong phạm vi độ ẩm tối ưu (Wo ± 2)%, duy trì suốt quá trình chuyên chở, tập kết, san rải và lu lèn. Khô hơn thì tưới bổ sung bằng vòi phun dạng sương; ướt hơn thì phải hong khô trước khi lu.

Vì sao mép móng hay bị hỏng dù giữa đường vẫn đạt độ chặt?

Thường do không rải rộng thêm. Khi không có khuôn đường hoặc đá vỉa, tiêu chuẩn yêu cầu rải rộng thêm mỗi bên tối thiểu 25 cm so với bề rộng thiết kế, và số lượt lu phải đồng đều kể cả ở phần mở rộng này.

Kết luận

Hệ số lu lèn cấp phối đá dăm không phải một con số tra bảng. TCVN 8859:2023 đưa ra hai công thức — một để ước tính từ khối lượng thể tích khô, một để chốt lại từ ba cao độ đo sau thi công thử — và bắt buộc con số dùng cho thi công đại trà phải lấy từ chính công trường đó.

Ba mốc cần nhớ: chiều dày mỗi lớp sau lu thông thường 15 cm, độ ẩm trong khoảng (Wo ± 2)%, và độ chặt K không nhỏ hơn 0,98. Còn 1,3 chỉ là con số tạm dùng lúc lập đề cương, không phải hệ số nghiệm thu.

Cuối cùng, nếu hồ sơ của anh còn dẫn TCVN 8859:2011 thì nên sửa lại trước khi trình — bản đó đã được TCVN 8859:2023 thay thế.

Bài viết liên quan

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi điện cho tôi Gửi tin nhắn Chat Zalo
icons8-exercise-96 chat-active-icon chat-active-icon chat-active-icon