Bê tông nhựa nóng và bê tông nhựa nguội khác nhau thế nào?

admin 6

Bê tông nhựa nóng và bê tông nhựa nguội khác nhau ở chất kết dính và nhiệt độ thi công. Loại nóng dùng nhựa đường đặc, trộn và rải khi hỗn hợp còn trên 130 °C, cho lớp mặt chịu lực lâu dài. Loại nguội dùng nhũ tương hoặc nhựa đường lỏng, rải ở nhiệt độ ngoài trời, chủ yếu để vá sửa. Bài này tra theo TCVN 13567-1:2022 — bộ tiêu chuẩn hiện hành cho lớp mặt đường bằng hỗn hợp nhựa nóng.

Bảng so sánh bê tông nhựa nóng và bê tông nhựa nguội về chất kết dính, nhiệt độ và phạm vi sử dụng

Chất kết dính quyết định tất cả

Cả hai loại đều là hỗn hợp đá dăm, cát, bột khoáng trộn với nhựa đường. Điểm chia đôi nằm ở dạng nhựa đường được dùng.

Bê tông nhựa nóng dùng nhựa đường đặc. Ở nhiệt độ thường nhựa này cứng như than, phải đun lên 150–170 °C mới đủ lỏng để bao đều hạt cốt liệu. Hỗn hợp nguội đi là nhựa đông cứng lại, khóa chặt bộ khung cốt liệu.

Bê tông nhựa nguội dùng nhũ tương nhựa đường theo TCVN 8817-1:2011 hoặc nhựa đường lỏng theo TCVN 8818-1:2011. Nhũ tương là nhựa đường phân tán trong nước, lỏng ở nhiệt độ thường; nhựa lỏng là nhựa đường pha dầu. Cả hai trộn được với cốt liệu nguội, nhưng cường độ chỉ hình thành sau khi nước hoặc dầu bay hơi hết — quá trình này mất nhiều ngày.

Hệ quả trực tiếp: loại nóng đạt cường độ ngay khi nguội, loại nguội phải chờ. Đó là lý do mọi lớp mặt đường chịu tải đều dùng bê tông nhựa nóng.

Bê tông nhựa nóng theo TCVN 13567-1:2022

Bộ TCVN 13567:2022 do Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải biên soạn, gồm ba phần: bê tông nhựa chặt dùng nhựa đường thông thường, bê tông nhựa chặt dùng nhựa đường polyme, và hỗn hợp nhựa bán rỗng. Đây là bộ tiêu chuẩn mới nhất cho lớp mặt đường bằng hỗn hợp nhựa nóng.

Nhiều hồ sơ cũ vẫn viện dẫn TCVN 8819:2011. Khi lập hồ sơ mới, cần kiểm tra lại hiệu lực của tiêu chuẩn được viện dẫn thay vì chép lại hồ sơ cũ — số liệu giữa hai bản không trùng nhau hoàn toàn.

Bê tông nhựa chặt là loại có cấp phối liên tục hoặc gián đoạn, độ rỗng dư sau đầm nén từ 3% đến 6%. Chính độ rỗng thấp này làm mặt đường kín nước và chịu được xe nặng. Thành phần và cách phân loại chi tiết xem ở bài bê tông nhựa nóng là gì.

Mép lớp bê tông nhựa vừa rải, thấy rõ cốt liệu bọc nhựa đường
Ảnh minh hoạ, không phải ảnh chụp sản phẩm của nhà máy.

Nhiệt độ là thứ phải canh từng công đoạn

Bảng 10 của TCVN 13567-1:2022 quy định nhiệt độ cho từng công đoạn. Với nhựa đường thông thường, các mốc chính:

Công đoạn Nhiệt độ yêu cầu
Đun nóng nhựa đường ở trạm trộn 160 ÷ 170 °C
Xả hỗn hợp từ thùng trộn lên ô tô 150 ÷ 170 °C
Phải loại bỏ hỗn hợp khi nóng quá ≥ 200 °C
Hỗn hợp trên xe khi đến hiện trường ≥ 150 °C
Khi rải, nếu mặt lớp dưới trên 30 °C ≥ 130 °C
Kết thúc lu, lu bánh thép ≥ 80 °C
Cho xe lưu thông ≤ 50 °C

Hai con số dễ bị bỏ qua. Thứ nhất, hỗn hợp nóng quá 200 °C phải loại bỏ, không phải cứ nóng là tốt — nhựa bị cháy thì mất tính dính. Thứ hai, nhiệt độ rải thay đổi theo nhiệt độ bề mặt lớp dưới: mặt dưới càng lạnh thì hỗn hợp càng phải nóng, từ ≥ 130 °C khi mặt đường trên 30 °C lên ≥ 140 °C khi mặt đường chỉ 15–20 °C.

Chi tiết từng mốc và cách đo xem thêm ở bài nhiệt độ thi công bê tông nhựa.

Bê tông nhựa nguội dùng vào việc gì

Bê tông nhựa nguội không có tiêu chuẩn quốc gia riêng quy định thành phần hỗn hợp như loại nóng. Nó được nhắc tới trong tiêu chuẩn thi công mặt đường với vai trò vật liệu sửa chữa, và hai tiêu chuẩn vật liệu TCVN 8817-1 với TCVN 8818-1 quy định chất kết dính.

Việc hợp lý của loại nguội:

  • Vá ổ gà, bù vênh cục bộ ở nơi không huy động được trạm trộn và máy rải.
  • Sửa chữa khẩn cấp ban đêm, mùa mưa, khi không thể bảo đảm nhiệt độ cho hỗn hợp nóng.
  • Khối lượng nhỏ, phân tán — vài chục mét vuông rải rác, chở hỗn hợp nóng tới nơi thì đã nguội.

Có một mốc thời gian đáng nhớ khi vá đường trước lúc thảm lớp mới: nếu vá bằng vật liệu rải nguội thì phải hoàn thành trước ít nhất 15 ngày, còn vá bằng bê tông nhựa nóng chỉ cần trước 1 ngày. Mười lăm ngày là thời gian để nước hoặc dầu trong chất kết dính bay hết.

Bảng so sánh hai loại

Tiêu chí Bê tông nhựa nóng Bê tông nhựa nguội
Chất kết dính Nhựa đường đặc Nhũ tương hoặc nhựa đường lỏng
Nhiệt độ trộn 150 ÷ 170 °C Nhiệt độ ngoài trời
Thiết bị Trạm trộn, xe ben, máy rải, lu Có thể làm thủ công
Thời gian đạt cường độ Ngay khi nguội dưới 50 °C Nhiều ngày, tới vài tuần
Cự ly vận chuyển Hạn chế vì phải giữ ≥ 150 °C Không bị ràng buộc
Tiêu chuẩn thi công TCVN 13567-1:2022 Chưa có TCVN riêng cho hỗn hợp
Dùng cho Lớp mặt đường chịu tải Vá sửa, công trình tạm
Sơ đồ bốn chặng nhiệt độ của bê tông nhựa nóng từ trạm trộn tới khi kết thúc lu lèn

Điều kiện thi công bắt buộc

Điều 8.2.1 của TCVN 13567-1:2022 quy định rõ: chỉ thi công khi nhiệt độ không khí lớn hơn 15 °C và không được thi công khi trời mưa. Đây là điều kiện bắt buộc, không phải khuyến nghị.

Trước khi rải còn phải tưới thấm bám hoặc dính bám. Điều 8.4.6 cấm tưới khi gió to hoặc trời mưa. Cách phân biệt hai loại vật liệu tưới này xem ở bài nhựa thấm bám dính bám.

Nếu đang rải mà gặp mưa đột ngột, Điều 8.6.12 cho một quy tắc rạch ròi: báo trạm trộn ngừng cấp hỗn hợp; nếu lớp đã lu được trên 2/3 tổng số lượt lu yêu cầu thì được lu tiếp trong mưa cho hết số lượt, ngược lại phải ngừng lu và gạt bỏ hỗn hợp ra khỏi mặt đường.

Bốn sai lầm thường gặp

  1. Dùng bê tông nhựa nguội cho lớp mặt chịu tải. Rẻ và tiện lúc thi công, nhưng cường độ và độ bền nước không đạt yêu cầu của lớp mặt đường ô tô.
  2. Vá nguội rồi thảm ngay hôm sau. Chất kết dính chưa bay hết dung môi, lớp vá còn mềm, thảm lên là lún cục bộ.
  3. Chở hỗn hợp nóng quá xa. Đến nơi dưới 150 °C là không đạt; phải tính cự ly và thời gian chạy xe ngay từ khâu chọn trạm trộn.
  4. Nghĩ càng nóng càng tốt. Vượt 200 °C là phải đổ bỏ cả mẻ.

Nhà máy Sản xuất VLXD Thành An Phú Yên

Nhà máy có trạm trộn bê tông nhựa nóng tại Thôn Lương Phước, xã Sơn Thành, Đắk Lắk, cung cấp hỗn hợp cho các công trình giao thông trong khu vực. Mỗi chuyến xe xuất xưởng kèm phiếu ghi nhiệt độ hỗn hợp, khối lượng và thời điểm rời trạm — đúng yêu cầu hồ sơ của tiêu chuẩn.

Trạm trộn với hệ silo và băng tải cung cấp hỗn hợp cho công trình giao thông
Ảnh minh hoạ, không phải ảnh chụp sản phẩm của nhà máy.

Vì nhiệt độ hỗn hợp khi tới hiện trường phải còn ít nhất 150 °C, cự ly từ trạm trộn tới công trường là yếu tố cần tính trước khi chốt nguồn cung. Tham khảo thêm ở bài đơn vị cung cấp bê tông nhựa nóng uy tín Phú Yên và quy trình thi công bê tông nhựa nóng.

Câu hỏi thường gặp

Bê tông nhựa nguội có bền bằng loại nóng không?

Không. Loại nguội đạt cường độ chậm và thấp hơn, độ bền nước kém hơn. Nó là vật liệu sửa chữa, không thay được lớp mặt bê tông nhựa nóng.

Trời mưa có thảm bê tông nhựa được không?

Không. Điều 8.2.1 cấm thi công khi trời mưa, và nhiệt độ không khí phải trên 15 °C.

Vá ổ gà bằng bê tông nhựa nguội giữ được bao lâu?

Tùy chất kết dính, lưu lượng xe và cách lèn chặt. Đây là giải pháp tạm; mốc duy nhất tiêu chuẩn nêu là phải vá trước ít nhất 15 ngày nếu sau đó thảm lớp mới lên trên.

Bê tông nhựa chặt viết tắt BTNC có phải bê tông nhựa nguội?

Không. BTNC trong TCVN 13567-1:2022 là bê tông nhựa chặt — loại nóng, cấp phối chặt, độ rỗng dư 3–6%. Đây là chỗ rất dễ đọc nhầm.

Kết luận

Bê tông nhựa nóng và bê tông nhựa nguội không phải hai phương án thay thế nhau mà là hai công cụ cho hai việc khác nhau. Loại nóng làm lớp mặt đường, có tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu đầy đủ, đổi lại ràng buộc chặt về nhiệt độ và cự ly vận chuyển. Loại nguội làm việc vá sửa nhỏ lẻ, linh hoạt nhưng chậm đạt cường độ.

Chọn sai không phải là chọn vật liệu kém mà là đặt vật liệu vào đúng chỗ nó không làm được. Trước khi quyết định, xác định rõ lớp đó chịu tải hay chỉ là vá tạm, rồi mới tính tới giá.

Cần bê tông nhựa nóng cho công trình giao thông? Nhà máy Sản xuất VLXD Thành An Phú Yên — Thôn Lương Phước, xã Sơn Thành, Đắk Lắk. Báo giá theo loại hỗn hợp, khối lượng và cự ly: liên hệ hotline 0973 33 6666.

Gọi 0973 33 6666

Bài viết liên quan

Bình luận

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi điện cho tôi Gửi tin nhắn Chat Zalo
icons8-exercise-96 chat-active-icon chat-active-icon chat-active-icon